
Tiểu sử 101 vị Thừa sai MEP đã phục vụ Giáo phận Huế (1850 – 1975)
Số 19. CHA PAUL EMILE MATHEY – THIỆN (1851 – 1927)
Cha Paul-Emile Mathey sinh tại Saint-Geosmes (Langré, Haute-Marne) ngày 14.04.1851 do cha mẹ đạo đức sâu xa đã dâng cho Giáo Hội hai người trong số con cái mình: một người là sư huynh các trường Kitô, qua đời cách đây vài tháng, người kia là linh mục Hội Thừa Sai Hải Ngoại, người yêu quí của chúng tôi vừa qua đời.
Cha Mathey vào Tiểu chủng viện Langres năm 1863, rồi vào Đại chủng viện năm 1870. Chính trong năm chiến tranh này ngài bị bắt như một tên đào ngũ ngay lúc ngài đi đến văn phòng trưng binh để ghi tên.
Ngài chịu phép Cắt tóc năm 1870 do Đức cha Guérin và chỉ vào năm 1871 ngài mới thực hiện ý định làm thừa sai. Ngài nhập Chủng viện Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris tháng 09 năm đó, thụ phong linh mục ngày 30.04.1874 và được chỉ định cho miền truyền giáo Huế.
Đến Huế ngày 20.02, ngài ở đó để học tiếng Việt cho đến khi được bổ nhiệm ra Tiểu chủng viện An Ninh năm 1875. Từ 1878 đến 1884 ngài làm việc mục vụ trong tỉnh Quảng Bình, để sau đó vào tỉnh Quảng Trị và lưu lại đó từ 1884 đến 1887.
Chính tại đó ngài đau lòng thấy các họ đạo bị tàn phá, các giáo dân bị sát hại bởi các nho sĩ là những người đã quyết định dẹp bỏ tất cả dân công giáo dưới chiêu bài xua đuổi người ngoại quốc khỏi đất nước. 8000 giáo dân bị tàn sát, bị thiêu sống trong vài ngày tại tỉnh Quảng Trị. Cha Mathey đã được báo trước về phong trào chống lại các kitô hữu này và công bố cho các chủng sinh đang nghỉ thường kỳ tại nhà: “Nếu chúng con muốn chết tử đạo vì đức tin, hãy vào nơi cha, chúng con sẽ chẳng phải chờ đợi lâu”.
Cha Mathey đi vào kinh đô để báo cho các quan biết về phong trào khác thường này và trở về giáo xứ Cổ Vưu ngay, tại đó, sau khi về đến, ngài nghe một tiếng nổ lớn; đó là dấu hiệu quy định loan báo cuộc chiến thắng dễ dàng của loạn quân trên các quan và công bố tình trạng chiếm đóng. Ngài vội viết cho Đức cha Caspar tấm giấy sau đây: “Thành Quảng Trị bị các nho sĩ chiếm đóng; tình trạng chúng con rất khó khăn, Đức cha có thể làm gì cho chúng con được không? Nếu chúng ta không gặp nhau được nữa trên cõi đời này, thì xin giã biệt! Con xin hy sinh”.
Rồi vào chiều tối, hai người phụ nữ lương dân báo tin về quyết định tàn sát người công giáo, ngài quy tụ giáo dân trong nhà thờ khoảng gần 800 người hô hào, khích lệ họ và giải tội tập thể cho họ. Nhưng cảnh tượng đàn chiên này, phần lớn gồm đàn bà trẻ con sẵn sàng để phải chết, chắc chắn làm cho ngài suy nghĩ và tức khắc gợi cho ngài quyết định kéo họ ra khỏi cái chết đang chờ bằng cách chạy trốn. Ngài khuyên họ làm thành từng nhóm và đi theo hẻm núi đến họ đạo đầu tiên gần tỉnh Thừa Thiên. Dầu ngài thúc đẩy hăng say và hiểm nguy gần kề, nhiều người công giáo do dự; có người thì không thích bỏ làng mạc, nhà cửa, của cải, những người khác thì từ nhiều năm đã sống dưới sự hăm dọa bách hại mà luôn thấy sự hăm dọa chẳng có gì và không thể tin rằng một ngày kia nó sẽ được thực hiện. Sự pha trộn giữa bướng bỉnh và ảo tưởng này là nguyên do làm cho gần 600 Kitô hữu phải chết.
Cha Mathey cải trang ra đi với vài người vào giờ đã định; cha Bửu là cha phó phải bắt kịp ngài cùng với các giáo dân khác. Vào lúc báo động, cha Mathey nép mình lại trong bụi rậm đợi chờ cha phó trong vô vọng, cha Bửu đã bị đánh lừa bởi những tiếng la vang của những người đang tìm nhau nên quay trở lại và bị bắt tại làng Long Hưng.
Cha Mathey tránh qua đêm trong làng gần đó, nằm trong đám ruộng và ngày hôm sau, 07.09.1885, nhờ một người lương vùng La Vang hướng dẫn đã đi về Huế hầu như một mình; vì 200 giáo dân đã theo kịp ngài lại không muốn đi xa hơn. Ngày 08.09, những người đi theo cùng ngài tiếp tục đi đường đó cách nhọc nhằn, bởi vì họ vừa đói vừa khát, thức ăn mang theo đã quăng hết khi nghe báo động. Ánh nắng càng làm tăng thêm nỗi nhọc mệt của họ và nhiều người trong họ nằm dài bên vệ đường không thể đi tiếp nữa. Cuối cùng người dẫn đường báo cho mọi người biết có họ đạo nhỏ Ba Trục (xã Phong Xuân, huyện Phong Điền) nơi đó khi nhìn thấy cha Mathey và tình trạng mấy người đi theo ngài ai cũng rất kinh hoàng; người ta nhanh chóng đến giúp những người chậm chạp và đưa về những kẻ đuối sức nằm trên đường hẻm.

Nguồn ảnh: irfa.paris
Ngày 09.09 cha Mathey mà mọi người tưởng đã bị giết, về tới Huế.Từ đó ngài lại có thể lên đường sau vài ngày và đến đúng lúc để cứu các thừa sai và giáo hữu bị bao vây trong Tiểu chủng viện An Ninh. Cha Mathey đã không cạn lời khi có dịp nói về những biến cố bi đát đó như một kỷ niệm luôn sống động trong ngài.
Tháng 03.1887, cha Mathey đi Hồng Kông, rồi, sau ba năm nghỉ ngơi, vào tháng 06 năm 1890 ngài đến giúp miền truyền giáo Qui Nhơn. Ngài làm cha sở Xóm Nam từ 1890 đến 1892. Sau đó ngài được bổ nhiệm làm giáo sư Đại chủng viện Làng Sông. Ngài ở lại đó từ tháng 02.1892 đến tháng 07.1894, rồi năm 1898 ngài về lại nhiệm sở Xóm Nam cho đến khi được bổ nhiệm đến Gò Thị thay cha Vivier vừa qua đời. Năm 1904 ngày lại đi nghỉ ở Hồng Kông, rồi trở lại năm 1907 để ở nhà xứ Qui Nhơn và ngài buồn lòng rời đó năm 1911 để lo giáo xứ Chợ Mới (Nha Trang) theo yêu cầu của cha chính Gagnaire, Bề trên miền truyền giáo trong thời gian vắng bóng Đức cha. Ngài ở đó cho đến năm 1913, năm đối với ngài khởi sự con đường Canvê. Đã mệt nhọc, lại còn thêm bị Phân Khoa Y học nhận thấy ngài bị phung và do đó bị buộc phải rời việc mục vụ, để đến ở một mình trong một căn nhà được xây riêng cho ngài gần bệnh viện Kim Châu, do các sơ dòng thánh Phaolô thành Chatres điều hành.
Chính nơi đó trong 4 năm ngài dâng lên Thiên Chúa các đau khổ của mình về tinh thần hơn thể xác; bởi vì ngài bị buộc ở một mình trong khi ngài là người thích có bạn bè. Tuy nhiên ngài nhẫn nhục chấp nhận thánh giá Chúa trao cho và ngài là người đã chẳng bao giờ đau ốm lại có thể dùng thời gian đau khổ này để đền tội mình và thu góp công nghiệp cho cõi trời. Cùng với bệnh phong còn thêm một thứ ung thư mà các bác sĩ đã không thể tìm ra gốc gác. Trong vòng 8 năm chỉ là một chấm nhỏ lớn lên từ từ; trong sáu tháng cuối, ung thư càng tăng thêm nhanh chóng, rồi vào lúc chết lỗ mũi hoàn toàn biến mất và một phần lớn gương mặt đã bị bào mòn. Tuy nhiên đôi mắt của ngài không bị gì và cho đến ngày cuối cùng, ngài vẫn có thể thỏa mãn đọc sách, điều an ủi ngài nhiều và là một nâng đỡ thực sự cho ngài. Ngài đã luôn đọc nhiều và nhớ nhiều, thế nên các cuộc chuyện vãn với ngài thật rất thú vị. Người bên cạnh ngài mỗi buổi chiều tối đến thăm ngài, để an ủi ngài trong cảnh cô đơn, không cần đọc báo hàng ngày, các tạp chí hoặc các tin tức, vị này được cha Mathey lượt lại những gì ngài đã đọc và thấy thích trong ngày; các đề tài thiêng liêng cũng có chỗ trong những lúc chuyện vãn này.
Rất thường khi vị thừa sai ở gần ngài buộc phải vắng mặt không thể thăm ngài hằng ngày được, lúc trở về, vị đó được ngài nóng lòng chờ đợi; và khi vị đó đến thì ngài thở ra khoái chí “A…! Cha đó à? A…! Tôi vui mừng biết bao được gặp cha, nhưng tôi đã không thể thấy cha đi qua!”. Chắc hẳn ngài chờ đợi và tỉnh thức, bởi vì từ nhà ngài có thể thấy con đường, điều làm cho ngài giải trí trong cảnh cô tịch. Trong 4 năm ngài được các sơ dòng thánh Phaolô thành Chartres điều hành bệnh viện tận tình săn sóc. Trước tiên sơ bề trên đến băng bó cho ngài mỗi ngày một lần, rồi sau đó cần phải thay băng hai lần nữa. Thỉnh thoảng ngài hơi rên đau một chút, nhưng rồi ngài cám ơn Chúa đã tránh cho ngài những nỗi đau lớn hơn. Cho đến tháng 08 vừa rồi đôi lúc ngài đã có thể dâng lễ một cách khó khăn trong căn phòng dùng làm nhà nguyện cho ngài nơi đó có đặt Mình Thánh Chúa. Từ chiếc ghế bành hướng về cánh cửa nhà nguyện mở hé, ngài có thể viếng Thánh Thể và mọi thứ năm thực hành giờ tôn thờ Thánh Thể theo luật của các Linh mục tôn thờ Thánh Thể và cầu nguyện cho lương dân trở lại. Trong những ngày cuối cùng, ngài cám ơn Chía đã bao phủ ngài bằng bao nhiêu sự săn sóc giúp ngài chịu đựng cơn bệnh. Ngài cũng tỏ lòng biết ơn đối với thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu là Đấng, sau tuần cửu nhật dâng kính thánh nữ, đã cho ngài thôi ngứa ngáy không chịu được do bệnh phong.
Cuối cùng, khi ngày càng yếu sức, người ta đề nghị ngài chuẩn bị chết lành bằng việc lãnh nhận các bí tích; ngài chấp nhận ngay. Tuy nhiên sau lần xưng tội cuối cùng, ngài nói với cha giải tội: “Cái chết từ xa dễ chấp nhận, nhưng khi đến gần…!” Hoàn toàn nhẫn nhục, bởi vì ngài đã chuẩn bị từ lâu, ngài còn được nâng đỡ bởi cuộc thăm viếng của Đức cha, của cha chính Gagnaire, và một vài anh em khác tham dự bí tích Xức Dầu Thánh được cha chính Labiausse, và là cha sở Kim Châu ban.
Trước khi rời ngài, Đức cha nói với ngài vài lời an ủi và ban cho ngài phép lành cuối cùng. Cha Mathey làm cử chỉ giã từ Đức cha cũng như các anh em cùng phó dâng mọi sự trong tay Chúa và thốt ra những lời sau đây: “In manus tuas Domine! Cor contritum et humiliatum Deus non despicies” – “Trong tay Ngài, lạy Chúa! Một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê” (Tv 51, 19).
Vài hôm sau, ngày 19 tháng 12, cha Mathey vẫn còn minh mẫn, trút hơi thở cuối cùng lúc 3 giờ chiều. Việc chôn cất được định vào ngày hôm sau. Tiếc thay thời tiết xấu không cho phép các người anh em tham dự đông đúc lễ an táng. Ngài Công sứ tỉnh và phu nhân, cũng như hai người Âu ở gần đó cũng hiện diện. Sau thánh lễ cử hành tại nhà thờ Kim Châu, đi theo linh cữu đến nơi an nghỉ có các sư huynh trường Kitô, các nữ tu của bệnh viện và đông đúc giáo dân. Ngài an nghỉ trong nghĩa địa giáo xứ Kim Châu.
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ biên tập