Ngài dạy các môn thần học luân lý và giáo luật một cách thông thạo và rõ ràng. Ngài không lơ là khía cạnh vật chất của trách vụ, ngài thực hiện những sửa sang quan trọng cho những khu nhà khác nhau của cơ sở và xây thêm những khu mới. Trong 13 năm làm Bề trên, ngài vui mừng thấy 35 chủng sinh lên chức linh mục.

Đại chủng viện không chiếm hết tất cả hoạt động của cha Chabanon, Những bổn phận làm cha Chính địa phận cũng chiếm một phần lớn thì giờ của ngài: những tham khảo trực tiếp hoặc bằng viết, cộng tác điều hành Miền Truyền Giáo, ngài cũng là cha giải tội của các chị em Dòng Kín.
Vào năm 1921, Đức Cha Allys còn trao phó cho ngài việc huấn luyện đời tu của Hội dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm vừa được Đức Cha thành lập ở cạnh Đại chủng viện.

Tu viện này, gồm hoàn toàn người bản xứ, có mục đích chuẩn bị những nhà giáo và y tá cho các trường và các trạm xá của các giáo xứ. Cha Chabanon đã đổ ra nhiều thì giờ và lao nhọc, và ngôi nhà hiện nay rất phát triển, đời sống đạo đức ở đó đã được xây dựng vững chắc, có thật nhiều ơn gọi, nhiều trường và nhiều trạm khám đã được lập nên trong các giáo xứ.
Sự hiểu biết rành tiếng Việt đã làm cho cha Chính của Huế được vinh dự làm thành viên của hai ủy ban được hình thành gồm các Đại diện các Miền Truyền Giáo Đông Dương và Xiêm La (Délégués des Missions de l’Indochine francaise et du Siam), một ủy ban lo việc thống nhất sách giáo lý, ủy ban kia lo việc thống nhất các kinh nguyện. Ủy ban các kinh nguyện họp tại Huế vào tháng tư 1924 và cha Chabanon được đặt làm chủ tịch. Vài năm trước đó, ngài dã là đại diện Miền Truyền Giáo Huế tại ủy ban giáo lý ở Phát Diệm, dưới quyền chủ tịch của Đức Cha Marcou. Trong cuộc họp này hay cuộc họp kia, có nhiều cuộc thảo luận công phu.
Rồi Đức Cha Allys mờ mắt dần. Thế nên trong nhiều năm liền cha Chính phải thay ngài đi ban phép Thêm sức: ngài lợi dụng các tháng hè để thực hiện việc này, hầu chủng viện khỏi phải chịu cảnh vắng ngài.
Rõ ràng tất cả các công việc này, bình thường hay tuỳ lúc, đã là một trách vụ khá nặng nề cho dầu đôi vai gánh lấy có vững mạnh chừng nào đi nữa, nhưng cha Chabanon không bao giờ biết nói không, khi người ta trao cho ngài một công việc mới nào. Ngài chỉ biết thở ra khi thấy quá nhiều việc để làm, mà ngài không thể chu toàn mỗi việc một cách hoàn hảo như lòng ngài mong ước. Tình trạng quá nhiều việc đó ăn dần ăn mòn sức khoẻ của người lao động miệt mài này mà anh em đồng sự của ngài không nhận thấy được.
Thế rồi, Đức Cha Allys, mắt bị đục thuỷ tinh thể (cataracte), và gần như hoàn toàn bị mù, cần có một vị giám mục phó. Cha Chính của ngài đã được Toà Thánh chọn để như lời Đức Khâm Sứ Toà Thánh diễn tả “làm Ximon thành Xyrênê tốt lành và vững chắc cho vị Đại Diện Tông Toà đáng kính của chúng ta”

Tin báo việc bổ nhiệm ngài đến Huế ngày 2 tháng 6 năm 1930 và vị tân Giám mục đã được Đức Khâm Sứ Dreyer tấn phong ngày 28 tháng 10 sau đó. Chiếc áo dòng tím không thay dổi gì trong thói quen sống đơn sơ và làm việc của Đức cha Chabanon. Ngài vẫn giữ chức vụ Bề trên và giáo sư Đại chủng viện cũng như tiếp tục hết lòng giúp Đức Giám mục Đại Diện Tông toà trong việc điều hành Miền Truyền Giáo.
Ngược với điều người ta hy vọng, Đức Cha Allys không thấy lại được, mặc dầu được mổ hai lần do những chuyên viên thành thạo nhất. Thế nên vị giám mục đáng kính xin từ chức và Đức Cha Chabanon trở thành Đại Diện Tông toà, nhận trách nhiệm lãnh đạo Miền Truyền Giáo vào tháng 6 năm 1931.
Vị Bề trên mới của giáo phận Huế hết lòng hết sức lo bổn phận trong trách vụ cao cả này. Theo thói quen của ngài, điều gì ngài làm, ngài không làm nửa vời; vì thế trong các chuyến thăm viếng mục vụ, ngài dừng lại nhiều ngày trong mỗi nhiệm sở để nắm bắt tình hình của các giáo xứ, chính ngài trực tiếp khảo hạch các trẻ sắp chịu phép Thêm sức và chia sẻ những vất vã nơi toà giải tội với các thừa sai và các linh mục bản xứ.
Việc điều hành của ngài được chú ý bởi một sự rất mực khôn ngoan. Ngài suy nghĩ lâu dài trước khi lấy một quyết định, đến độ người ta thỉnh thoảng cho ngài là chậm chạp. Ngài cũng rất mực từ phụ, hoặc trong những ý kiến phải bàn, hoặc trong những la mắng hay những bắt phạt phải có. Các tương quan của ngài với hàng giáo sĩ thấm đượm một tinh thần rất mực đơn sơ, một sự chân thành đầy tâm huyết và một sự tận tâm trọn vẹn.
Chính dưới triều giám mục của ngài, đan viện Phước Sơn đã được sát nhập vào đại gia đình Xitô.

Chính ngài đã là ngưòi bảo trợ và hướng dẫn cha Benoit (Denis) và người kế nhiệm là cha Bernard (Mendiboure) ngay từ khi lập đan viện. Vào ngày 21 tháng 3 năm 1935, ngài đã vui mừng chủ toạ nghi thức sát nhập Hội dòng trẻ trung này với Dòng Xitô, nhân danh vị Tổng Quyền (Abbé génẻral) rất đáng kính.
(Còn tiếp)
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ