Đức Cha Joseph Hyacinthe Sohier (Bình) (1818-1876) (tiếp theo)

22/07/2026

Sự kiện đáng nhớ nhất trong giáo phận cần được nêu lên là cuộc hành trình của Đức Cha Sohier đến Bắc Kỳ như là sứ giả của nhà Vua.

Bản báo cáo năm 1874 viết:

Khi ở Huế người ta biết được quân Pháp đã chiếm Hà Nội, Vua và chính phủ hoảng hốt. Vua nhờ Đức Cha Sohier và cha Chính của ngài, là những người đã bị bách hại trước đó, đi Bắc Kỳ với tư cách môi giới (intermédiaires) điều đình với ông Garnier. Để tránh những khốn khổ mới cho các giáo dân của mình và có lẽ cho mọi kitô hữu Việt Nam, Đức Cha đã bằng lòng nhận sứ mạng khó khăn này với điều kiện nhà Vua trao toàn quyền cho các sứ giả mà Vua đã có từ lâu nay ở Sài Gòn để kết thúc (conclure) một hoà ước với nước Pháp, đồng thời sai đi Bắc Kỳ cùng với ngài một vị quan lớn được quyền bàn với ông Garnier vấn đề giao thương (la qưestion commerciale). Vua đồng ý tất cả và các vị đi ngay. Với đầy vẻ uy nghi, Đức Cha đã rời Huế ngày 01 tháng 12 và đến Hà Nội ngày 16.

Các biến cố diễn biến rất nhanh, kết quả chỉ đạt được bởi một phái bộ mới và sau nhiều khốn khổ lớn lao. Đức Cha Sohier đã trở lại Miền Truyền Giáo sau đó một thời gian. Tình trạng chung còn lâu mới bình lặng lại. Các nho sĩ lấy làm thoả mãn vì biết được những cuộc tàn sát ở Bắc Kỳ và rất ao ước những điều đó tái diễn tại Nam Kỳ. Tuy nhiên  từ lúc đó, trật tự đã được duy trì ”.

Cũng vào năm 1874, ngài được truy tặng Bắc Đẩu Bội Tinh vì những việc phục vụ đất nước mình, Vua Tự Đức cũng trao tặng Huy Chương cho ngài năm 1868.

Khi hoà ước được ký ngày 15 tháng 3 năm 1874 chấp nhận Công giáo được tự do tại Việt Nam, Đức Cha cố gắng làm sao để hoà ước này được công bố. Ngài đạt kết quả vào tháng 10 năm 1875.

Trong bản báo cáo năm 1875, Đức Cha Sohier viết:

Năm ngoái, tôi đã thực hiện trong một phần Miền Truyền Giáo của tôi một chuyến thăm mục vụ kéo dài 3 tháng và hoàn thành rất tốt đẹp. Trong mỗi giáo hạt, tôi đã cho tổ chức các cuộc rước kiệu rất đẹp đẽ tôn vinh Mình Thánh Chúa, làm phép các nhà thờ và nghĩa trang, giảng tĩnh tâm cho các linh mục và các nữ tu, chủ toạ các buổi thi giáo lý trong mỗi giáo xứ, cử hành bí tích Thêm Sức v.v. Các nghi thức này quá quen đối với bên trời Âu, nhưng đối với chúng tôi, trong một đất nước trước đây là lò bách hại, lại là một việc mang đến tràn đầy hân hoan và thán phục…”

Về việc tổ chức và các công việc của Miền Truyền Giáo, Đức Cha cho biết:

Miền Truyền Giáo của tôi gồm gần 3 tỉnh, đó là tỉnh Thừa Thiên  hay tỉnh của Vua, nơi có kinh đô, tỉnh Quảng Trị và hai phần ba tỉnh Quảng Bình. Một vị thừa sai trông coi một tỉnh hoặc một phần tỉnh như là linh mục tổng quản (archiprêtre).

  1. Cha Pontvianne là bề trên tỉnh Quảng Bình; ngài lo việc điều hành 6 linh mục bản xứ, hai nữ tu viện và lo giám sát 4.845 giáo dân, trong đó có 741 người thuộc quyền ngài đặc biệt coi sóc.
  2. Cha Pineau là bề trên hai giáo hạt rộng lớn, lo việc điều hành 8 linh mục bản xứ, một nữ tu viện lớn và giám sát 7.225 giáo dân, trong đó có 500 người thuộc quyền ngài đặc biệt coi sóc.
  3. Cha Bonin là bề trên hai giáo hạt lớn, lo việc điều hành 8 linh mục bản xứ, hai nữ tu viện và giám sát 7.424 giáo dân, trong đó có 1.022 người thuộc quyền ngài đặc biệt coi sóc.
  4. Cha Dangelzer dạy thần học, coi sóc một giáo xứ gồm 614 giáo dân, giải tội cho các nữ tu của hai tu viện và các nữ tu ở cô nhi viện Kim  Long, đồng thời, bao lâu các công việc khác của  ngài không có gì trở ngại, cùng với tôi lo việc điều hành 14 linh mục bản xứ và giám sát 6.041 giáo dân trong tỉnh của Vua.
  5. Cha Renauld có nhiệm vụ điều hành các trang trại của chúng tôi nơi có những cơ sở chính của Nhà Dục Anh (Sainte-Enfance – tôi sẽ nói đến một ít sau này).
  6. Cuối cùng tôi đặt cha Mathey đứng đầu linh mục đoàn. Về phần tôi thì lo điều hành tổng quát cả Miền Truyền Giáo, liên lạc bên trong và bên ngoài, lo sổ sách tính toán của sở Quản lý, vì không có sẵn một vị thừa sai nào để có thể giao phó trọng trách này, điều này càng làm cho tôi thêm rối rắm…

Trong Miền Truyền Giáo, chúng tôi có hai trang trại cho Nhà Dục Anh , một đã được lập ra cách đây sáu năm, nay rất phát triển, còn trang trại kia lớn gấp ba lần đã được khởi công năm nay. Cho Miền Truyền Giáo, chúng tôi còn có một trang trại khác nữa cũng đang hình thành, mặc dầu đã được khởi sự cách đây ba năm. Vì trang trại này ở chỗ rất tốt và ở đó có thể tạo ra những gì cần thiết để sinh sống, nên với sự đồng thuận của tất cả anh em, tôi đã định chuyển trụ sở của chúng tôi đến đó, xây dựng ở đó một nhà thờ đẹp đẽ và một nữ tu viện v.v…. Đó cũng có thể sẽ là một nơi tĩnh dưỡng cho Miền Truyền Giáo, một nơi tĩnh tâm cho các linh mục và nơi nương tựa cho các tân tòng dễ bị hư mất, nếu phải trở về giữa những làng lương dân ở quê của họ. Tôi đã đặt cha Renauld đứng đầu để lo các công trình hết sức quan trọng này”.

Ngày 14 tháng 1 năm 1876, Đức Cha Sohier viết:

Ngày 24 tháng 10 năm 1875, theo lời kêu nài lại của Công sứ Rheinart, Vua Tự Đức đã cho ra một sắc lệnh công bố điều 3 của hoà ước. Chúa nhật sau đó, ngày 31 tháng 10, tôi đã long trọng công bố sắc lệnh này trong nhà thờ Kim Long ngay sau thánh lễ, có sự tham dự của các vị trong phái bộ ngoại giao và mọi Kitô hữu trong vùng. Sau đó chúng tôi đã hết lòng hết sức cất lên bài Te Deum. Tôi cũng ra một thư luân lưu truyền hát bài ca tạ ơn Chúa tại tất cả các giáo xứ trong Miền Truyền Giáo,  sau khi đọc sắc lệnh tự do này.

 Nhưng các quan chức không công bố gấp rút như tôi. Cho đến bây giờ sắc lệnh vẫn còn nằm trong hồ sơ của các vị tổng đốc và tri huyện. Người ta dễ hiểu thái độ tránh trút này của họ: quả là nhọc nhằn khi phải đốt đi những gì họ đã quí trọng và quí trọng những gì họ đã đốt đi. Tuy nhiên trong những ngày nầy người ta từ khắp nơi tin cho tôi rằng họ mời các lý trưởng đến phòng làm việc của họ để nhận các bản sao sắc lệnh. Thế là chúng tôi đã bước vào một thời kỳ mới để các kitô hữu Việt Nam đáng thương thở được thoải mái kể từ gần 50 năm qua”.

Vào tháng 6 năm 1876, dầu đuối sức, ngài vẫn muốn thực hiện một chuyến thăm Quảng Bình. Bị cơn bệnh quật ngã hai tháng sau đó tại Kẻ Sen, giáo xứ đã làm chỗ cho ngài trú ẩn thường xuyên và lâu dài trong những ngày xấu nhất của cuộc bách hại, ngài đã trút hơi thở cuối cùng tại đó ngày 3 tháng 9 và được chôn cất trong thánh đường.

Cha Chính Dangelzer của Miền Truyền Giáo Bắc Đàng Trong cho hay những chi tiết sau đây về giây phút cuối cùng của Đức Cố Giám Mục:

Từ hai năm nay, Đức Cha  Sohier đã bị bệnh kiết lỵ thường xuyên tấn công. Tình trạng này gây cho chúng tôi phải nhiều lo âu và nhiều lần chúng tôi đã thỉnh cầu Đức Cha tìm cách phục hồi sức khoẻ ở nơi nào có khí hậu ít độc hại hơn, nhưng rủi thay, chúng tôi đã không thể đạt được điều đó và chẳng bao giờ Đức Cha muốn giải quyết bằng việc rời bỏ Miền Truyền Giáo thân yêu của ngài.

Vào cuối tháng 6, Đức Cha đã bắt đầu cuộc thăm viếng mục vụ nơi tỉnh Quảng Bình. Nhận lời mời của Đức Cha Croc, ngài đã đi đến tận Hướng Phương để làm phép thánh đường mới của vùng này. Từ đó ngài trở lại Kẻ Sen cử hành trọng thể lễ Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên, nhưng mệt nhọc trong dịp này đã gây nên một cuộc tấn công mới của cơn bệnh quái ác, cuộc tấn công này dữ dội hơn mọi lần khác.

Bởi thế, ngày 16 tháng 8, Đức Cha cảm thấy bệnh nặng nguy tử, bấy giờ ngài chỉ nghĩ đến việc dọn mình chết lành mà thôi. Nghe tin đó, mọi người trong Miền Truyền Giáo, từ hàng giáo sĩ đến các tín hữu đều đọc kinh cầu nguyện xin cho khỏi tai hoạ đang đe doạ này. Các thừa sai và các linh mục bản xứ chạy đến vầy quanh Đức Cha, các bác sĩ giỏi nhất trong vùng được mời đến, nhưng mọi sự đều vô ích. Thiên Chúa nhân lành đã muốn thưởng công cho người tôi tớ trung tín của Ngài.

Cơn bệnh cứ tăng thêm, từ ngày này qua ngày khác Đức Cha suy yếu dần. Ngay từ những ngày đầu Đức Cha đã chịu các Bí tích cuối cùng. Mọi ân xá Giáo Hội ban cho trong giây phút cuối cùng đều đã được áp dụng cho ngài. Cho đến cuối Đức Cha vẫn biết rõ mọi sự, ngài nói lên những ước muốn cuối cùng và sắp đặt mọi sự cho tang lễ của Ngài.

Cuối cùng ngày 3 tháng 9, ít lâu sau trưa, Đức Cha nhẹ nhàng trút linh hồn về với Chúa. Sự mất mát này làm cho mọi tín hữu tràn ngập âu sầu, các linh mục bản xứ khóc thương người cha tuyệt diệu nhất, các vị thừa sai càng đau đớn hơn, vì họ mất đi vừa là một người cha, vừa là một người bạn tận tuỵ nhất. Vì đặc trách các công vụ của Pháp là người đã có thể đánh giá cao tư cách hoà giải và lòng nhân lành của Đức Cha cũng chia sẻ nỗi đau buồn của chúng tôi; chính các vị Thượng Thư của Vua Tự Đức cũng nói lên tâm tình phân ưu và chia sẻ niềm thương tiếc với  chúng tôi”.

Hiền lành, khôn ngoan và hiếu hoà, ngài đã luôn cho thấy bằng chứng tinh ý và khôn khéo (tact et habileté): ngài nâng dậy được những đổ nát do cuộc bách hại gây nên, mặc dầu sự thù hằn của các quan chức, và ngài đã giúp ích cho đất nước mình mà vẫn giữ được mối giao hảo với vua Tự Đức. Một con đường ở Sài Gòn mang tên ngài.

(Dịch theo nguyên văn Pháp ngữ trongArchives des Missions Ẻtrangères”,

No 472, Pays: Vietnam , “Các báo cáo thường niên của các vị Giám Mục Giáo Phận HuếMột số tài liệu của các vị Thừa Sai Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Parisdo Lê Thiện Sĩ sưu tầm ).

Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ