
Martin – Jean Pontvianne sinh ngày 01 tháng 3 năm 1839 tại làng La Brouse Yssingeaux, miền Haute-Loire, mạn trung nam nước Pháp.
Thiếu thời, Pontvianne vào Tiểu chủng viện Monistrol, lên Đại chủng viện Hội Truyền Giáo Paris từ 23 tháng 10 năm 1860. Thụ phong linh mục ngày 30 tháng 5 năm 1863.


Ngày 16 tháng 7 năm 1863, linh mục Pontvianne đến Sài Gòn, được chỉ định ra giáo phận Bắc Đàng Trong, nhưng phải tạm thời nhận công tác Tuyên uý cho nhà tù Côn Đảo. Sau 6 tháng, cha ra Huế nhận nhiệm vụ mới từ 16 tháng 9 năm 1864.
Đức Cha Sohier bổ nhiệm linh mục Pontvianne ra họ đạo Sáo Bùn (Tam Toà, Đồng Hới, Quảng Bình). Năm 1867 cha Pontvianne xây nhà thờ Sáo Bùn và điều hành giáo xứ này trong 13 năm …

Trong bản báo cáo gửi Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris năm 1875, Đức Cha Sohier cho biết:
“Miền Truyền Giáo của tôi gồm gần 3 tỉnh, đó là tỉnh Thừa Thiên hay tỉnh của Vua, nơi có kinh đô, tỉnh Quảng Trị và 2/3 tỉnh Quảng Bình. Một vị thừa sai trông coi một tỉnh hoặc một phần tỉnh như là linh mục tổng quản (archiprêtre).
Cha Pontvianne là bề trên tỉnh Quảng Bình; ngài lo việc điều hành 6 linh mục bản xứ, hai nữ tu viện và lo giám sát 4.845 giáo dân, trong đó có 741 người thuộc quyền ngài đặc biệt coi sóc”.
Cha Pontvianne chăm lo công tác giảng dạy giáo lý dự tòng, tổ chức các kỳ khảo hạch giáo lý trong giáo hạt.
Ngày 3 tháng 9 năm 1876, Đức Cha Sohier mất tại Kẻ Sen do lâm bệnh nặng trong một chuyến viếng thăm mục vụ tỉnh Quảng Bình…
Ngày 31 tháng 8 năm 1877, Toà Thánh bổ nhiệm linh mục Pontvianne làm Giám mục hiệu toà Botra. Lễ tấn phong được cử hành tại Kim Long ngày 12 tháng 5 năm 1878.

Năm 1878, Đức Cha Pontvianne viết cho các Hội Đồng trung ương của Bộ Truyền Giáo:
“Từ ít lâu nay đã xảy ra một ít chuyển động hướng về Đạo Thánh Chúa và những tâm tình sẵn sàng đầy phấn khởi này càng được củng cố vững chắc, mặc dầu hoả ngục ra sức bóp nghẹt.
Ở Phú Tài, 70 người với ông xã trưởng dẫn đầu đã xin học đạo và không ngại loan báo điều này trong cuộc họp làng. Một chấn động lớn giữa bà con bạn hữu của những dự tòng.
Những cuộc bách hại cũng như những ve vãn hứa hẹn không thể ngăn cản những người dự tòng này thực hiện ý định của mình. Để thắng được sự kiên vững đó, các người lương kêu mời một trong những kẻ thù khét tiếng của người có đạo đến giúp họ, đó là ông quan nổi tiếng tên Kiêm, đang đặc trách ngoại vụ. Bấy giờ không có điều gì mà không dùng đến, những vu cáo vô đạo, bắt bỏ tù, những hành hạ, tất cả được dùng để làm cho ông xã trưởng hết chịu đựng nỗi, nhưng mọi sự đều vô ích: ông này vẫn không bị lay chuyển và sau khi đã nhục mạ và gây cho ông thật nhiều đau khổ cho, người ta đành để ông tự do ôm ấp đức tin mà ông đã hết lòng tuyên xưng. Hơn nữa, tấm gương của ông xã trưởng và các người tân tòng làm cho lương dân trong làng cảm kích để đến lượt họ lại đến xin học đạo và trở thành Kitô hữu.”
Bản báo cáo năm 1878 gửi cho Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris còn cho biết:
Ở Tri Lễ, cũng những khó khăn và những kết quả như vậy. Để ngăn cản những người tân tòng của làng này thực hiện ý định theo đạo Công giáo, nhiều quan chức gốc làng này và bà con của họ đề nghị cấp tiền cấp đất cho những ai từ bỏ việc làm người có đạo. Chỉ có một gia đình bị kéo theo. Còn những người khác thà chịu nghèo và chịu bà con cũng như đồng hương ruồng rẫy hơn là bỏ đạo. Sau khi làm ầm ĩ, các người lương thấy chẳng được lợi gì, bèn để họ yên tĩnh; nhiều người cũng đã theo gương họ và lãnh bí tích Rửa tội.
Nhiều gia đình trong làng Cổ Hiền đã xin học đạo. Để làm cho họ sợ hãi và chán nản, người ta đã dùng mọi phương thế không thể tưởng tượng được. Các cha mẹ của những ngưòi mới theo đạo kiện cáo họ và ỷ vào sự che chở của ông Kiêm bóc lột hết của cải họ, đưa họ vô tù, nhưng vẫn không vì thế mà làm cho họ giảm sút tinh thần chịu đựng. Cuối cùng, khó chịu vì bao nhiêu bất công, đồng thời thấy gương kiên trì và nhân đức của các kitô hữu, nhiều gia đình lương dân đã muốn ôm ấp một thứ đạo gợi được một lòng can đảm như thế. Ở Cổ Hiền và vùng lân cận người ta tính được khoảng 100 người mới theo đạo.
Các người đạo mới ở Thuỷ Ba cũng đã chịu đau khổ không kém. Họ bị trao nộp cho các quan, bị đánh đập, bị tố cáo những thứ tội tưởng tượng ra. Nhưng công lý của vụ kiện và sự bất công của những người bách hại tỏ tường đến nỗi ông Kiêm là người thích dành riêng cho mình xét xử và phạt những người theo đạo này, lại cảm thấy mình buộc phải trả tự do cho họ. Hiện nay trong vùng có 20 người đạo mới và hơn 30 dự tòng.
Ở An Lợi các sự việc xảy ra cũng hệt như vậy. Nhưng mặc cho bao nhiêu bách hại và có thể vì những bách hại dó, đạo Chúa tiếp tục thực hiện các cuộc chinh phục trong làng này và nhiều làng khác thuộc tỉnh này.
Cuối bản báo cáo, người viết còn thêm:
“Nguyện xin Chúa chúc lành cho những khởi đầu tốt đẹp này và ban cho những bạn đồng sự của chúng tôi những phương tiện để thu hoạch vụ mùa đang chuẩn bị trong xứ này. Nguyện xin lòng thương xót Chúa khấng ban lại sức khoẻ cho vị Mục tử nhiệt thành của Miền Truyền Giáo này và cho những ai cộng tác với ngài đang chịu thử thách vì bệnh hoạn được có đủ sức tiếp tục chăm lo các công việc đang làm giữa một đoàn dân rất sẵn lòng!”
Đức Cha Pontvianne đi kinh lý giáo phận nhưng phải bỏ dở vì ngã bệnh nặng. Ngài qua Hồng Kông vào mùa xuân 1879, vào điều trị tại dưỡng đường Bêtania.

Rồi trong bản báo cáo năm 1879, cha Dangelzer cho biết:
“Một niềm đau dữ dằn đã giáng xuống trên Miền Truyền Giáo. Tiếp theo những vui mừng và hy vọng từ việc Đức Cha Pontvianne được nâng lên hàng Giám mục và những hoạt động đầu tiên trong việc cai quản của ngài, là những lo sợ và đau khổ do tình trạng sức khoẻ của Đức Cha. Than ôi, những lo sợ này đã thành hiện thực, và lần thứ hai trong vòng 3 năm, giáo phận Bắc Đàng Trong lại khóc thưong vị Chủ Chăn của mình đã mất ”.
Ngày 30 tháng 7 năm 1879 Đức Cha tạ thế lúc mới 40 tuổi đời, làm Giám mục Bắc Đàng Trong 14 tháng. An táng trong nghĩa trang Bêtania ở Hồng Kông.
(Theo Lê Ngọc Bích -Lê Đình Bảng – Lê Thiện Sĩ, Giám Mục Người Nước Ngoài qua chặng đường 1659-1975 với các Giáo phận Việt Nam, Hà Nội 2009 và trích dịch từ nguyên văn Pháp ngữ Các Báo Cáo của các vị Giám Mục Giáo Phận Huế gửi Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris do Lê Thiện Sĩ sưu tầm)
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ